Cách xếp loại các dạng mũi
2.2. NHÓM SO SÁNH GIỮA 2 PHƯƠNG PHÁP ĐO TRỰC TIẾP VÀ ĐO TRÊN ẢNH Chúng tôi đã tiến hành thêm một nghiên cứu so sánh
trên 10 đối tượng được đo bằng 2 phương pháp trực tiếp và trên ảnh kỹ
thuật số có ứng dụng phần mềm NM 2.0.
2.3. NHÓM NGHIÊN CỨU CẤU TRÚC KHUNG XƯƠNG SỤN THÁP MŨI 2.3.1. Đối tượng
2.3.2. Cỡ mẫu
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ
Bảng 3.3. Tỷ lệ các dạng mũi.
k.y.n.: sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê. 3.1.2.2. Chiều dài, chiều ngang và chiều cao tháp mũi Bảng 3.4. Các kích thước cõ bản của tháp mũi: chiều dài, chiều ngang và chiều cao.
3.1.2.3. Ðộ nhô của chóp mũi Bảng 3.5. Ðộ nhô của mũi ðánh giá qua góc mũi-mặt, tỷ số Baum và tỷ số Goode.
3.1.2.4. Các dạng nền mũi, lỗ mũi trước và trụ mũi
Hình 3.64. Các dạng nền mũi. Hình 3.67. Vị trí của chân trụ mũi (CTM) so với chân cánh mũi (CCM).
A: hai môi trùng ĐMC; B: hai môi trước ĐMC; Nền mũi
chủ yếu có 4 dạng (nền mũi có 2 cạnh bên thẳng, nền mũi hình đa cung;
nền mũi dạng 1/2 hình tròn hoặc bầu dục; nền mũi với đỉnh có dạng góc
vuông) và dạng hình đa cung chiếm tỷ lệ cao. Lỗ mũi trước có 9 dạng và
trụ mũi có 3 dạng chính (hình phễu ngược, hình trụ và hình tam giác).
b. Kích thước các thành phần của nền mũi Bảng 3.7. Kích thước chóp mũi, lỗ mũi trước, trụ mũi và cánh mũi.
c. Tương quan giữa các thành phần khác nhau của nền mũi Tương quan giữa chóp mũi và nền mũi: Chiều cao chóp mũi
= 50% chiều cao nền mũi và chiều ngang chóp mũi = 80% chiều ngang nền
mũi, không có sự khác biệt giữa 2 giới. 3.1.2.6. Chỉ số mũi: chúng tôi tính 2 chỉ số mũi: chỉ số mũi 1 với chiều dài mũi n-tp và chỉ số mũi 2 với chiều dài mũi n-sn. Bảng 3.12. Chỉ số mũi.
k.y.n.: sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê. 3.1.2.7. Tương quan của tháp mũi với gương mặt Trong phần này chúng tôi phân tích mối tương quan của tháp mũi với gương
mặt và các khối khác như trán, môi, cằm, mắt. 3.1.2.8. Một số phương trình hồi qui Chúng tôi đã tìm và chỉ chọn những phương trình hồi qui có p <0,05
và hệ số tương quan ≥ 0,3. 3.2. SO SÁNH KÍCH THƯỚC THÁP MŨI GIỮA ĐO TRỰC
TIẾP VÀ ĐO TRÊN ẢNH KỸ THUẬT SỐ
Qua nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy trung bình độ chênh lệch về khoảng cách giữa 2 phương pháp là 0,2mm – 0,3mm và trung bình độ chênh lệch về góc giữa 2 phương pháp là 0,4 độ – 0,5 độ và sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê. 3.3. CẤU TRÚC KHUNG XƯƠNG SỤN THÁP MŨI 3.3.2.1. Xương mũi a. Hình dạng: tứ giác Bảng 3.20. Kích thước xương mũi.
c. Hình tháp tạo bởi 2 xương mũi Bảng 3.21. Góc đỉnh và đáy hình tháp tạo bởi 2 xương mũi.
3.3.2.2. Sụn mũi bên a. Hình
dạng: 2 dạng : hình tứ giác (73%) và hình tam giác (27%). 3.3.2.3. Sụn cánh mũi a. Trụ ngoài b. Trụ trong Bảng 3.28. Kích thước trụ trong sụn cánh mũi.
b.2. Dạng kết hợp của 2 trụ trong: 2 trụ trong sụn cánh mũi kết hợp theo 3 dạng: lồng vào nhau (53.3%), tựa lưng đơn giản đối xứng (30%) và tựa lưng phức tạp đối xứng (16.7%). c. Đỉnh: 3 dạng góc kết hợp của trụ ngoài và trụ trongsụn cánh mũi là nhọn, tròn và vuông, có 30% các trường hợp góc này không đối xứng nhau giữa bên phải và bên trái. 3.3.2.4. Sụn vừng 3.3.2.5. Một số phương trình hồi qui * Phương trình hồi qui của góc đỉnh hình tháp tạo bởi 2 xương mũi (cực
dưới) theo góc đỉnh hình tháp tạo bởi 2 xương mũi (cực trên): * Phương trình hồi qui của chiều cao sụn mũi bên (SMB) theo chiều dài
sụn mũi bên:
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 4.1. BÀN LUẬN VỀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU HÌNH THÁI THÁP MŨI TRÊN ẢNH KỸ THUẬT SỐ VÀ SO SÁNH KẾT QUẢ GIỮA 2 CÁCH ĐO TRỰC TIẾP VÀ TRÊN ẢNH KỸ THUẬT SỐ: Từ phương pháp phân tích mặt trên ảnh, chúng tôi đã ứng dụng cách chụp ảnh kỹ thuật số cùng với cách đặt thước để hạn chế sai số khi đo khoảng cách. Ngoài ra, chúng tôi cũng đã đưa ra ý tưởng để các nhà tin học viết phần mềm NM 2.0 giúp thực hiện việc đo trên ảnh kỹ thuật số được nhanh và chính xác. Phương pháp phân tích mặt trên ảnh kỹ thuật số có các ưu điểm sau: hiện đại, tiện dụng, chính xác và kinh tế. So sánh kết quả giữa 2 cách đo trực tiếp và trên ảnh kỹ thuật số Qua nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy độ chênh lệch về khoảng cách giữa 2 phương pháp đo trung bình là 0,2mm – 0,3mm và độ chênh lệch về góc giữa 2 phương pháp đo trung bình là 0,4 độ – 0,5 độ. Vì cả 2 phương pháp đều có sai số nên chúng tôi không thể gọi độ chênh lệch này là sai số của phương pháp đo trên ảnh kỹ thuật số. Kết quả này cho thấy độ sai biệt là không có ý nghĩa thống kê giữa phương pháp đo trên ảnh kỹ thuật số có ứng dụng phần mềm NM 2.0 và phương pháp đo trực tiếp. Tuy nhiên, cần có những nghiên cứu so sánh trên mẫu lớn để kết quả có độ tin cậy cao. 4.2. BÀN LUẬN VỀ HÌNH THÁI THÁP MŨI NGƯỜI VIỆT NAM TRƯỞNG THÀNH Về hình dạng, mũi người Việt Nam có những đặc điểm của mũi người da vàng: mũi thấp, sống mũi lõm chiếm tỷ lệ cao, cánh mũi phồng, nền mũi hình đa cung.... Về kích thước, so với các công trình nghiên cứu của các tác giả trong nước đo trực tiếp và đo trên ảnh thì các kết quả về chiều dài mũi, góc mũi-trán, góc mũi-cằm chỉ số mũi... của người Việt Nam trong nhóm nghiên cứu của chúng tôi có kết quả tương đương. Cũng vậy, kích thước tháp mũi của phụ nữ Việt Nam trong nghiên cứu của chúng tôi không có nhiều khác biệt so với phụ nữ miền nam Trung Quốc theo nghiên cứu của Sim và Chan. So với mũi của người da trắng, thì các kết quả nghiên cứu trên người Việt Nam của chúng tôi có rất nhiều khác biệt: mũi người Việt Nam ngắn, thấp và ít nhô hơn người da trắng. Tỷ lệ chiều ngang mũi / gian khóe mắt trong trung bình của người Việt Nam theo công trình của chúng tôi là 1,17 : 1, lớn hơn tỷ lệ 1 : 1 của người da trắng theo công bố của Powell.Ở người da trắng, chiều cao chóp mũi chiếm 33% chiều cao nền mũi và chiều ngang chóp mũi chiếm 75% chiều ngang nền mũi. Các tỷ lệ tương ứng của người Việt Nam trong nhóm nghiên cứu này là 55% và 81%, lớn hơn. Như vậy, so với nền mũi thì chóp mũi người Việt Nam cao và rộng hơn chóp mũi người da trắng. 4.3. BÀN LUẬN VỀ CẤU TRÚC KHUNG XƯƠNG SỤN THÁP MŨI: Về hình dạng: xương mũi, sụn mũi bên, sụn cánh mũi, sụn vừng của người Việt Nam không khác với những mô tả của các tác giả nước ngoài: xương mũi có hình tứ giác, sụn mũi bên có hình tứ giác và tam giác, trụ ngoài sụn cánh mũi theo 5 dạng phù hợp với cách phân loại của Zelnik. Về kích thước: so với kích thước các xương và sụn tháp mũi của người da trắng thì các kích thước tương ứng ở người Việt Nam nhỏ hơn, điều này phù hợp với nhận xét của các tác giả nước ngoài. 4.4. MỘT SỐ ỨNG DỤNG: Chúng tôi xin đề xuất một số ứng dụng của luận án: * Ứng dụng phần mềm NM 2.0 trong phân tích mặt trên ảnh kỹ thuật số trước và sau mổ tạo hình-thẩm mỹ mũi và vùng mặt. * Ứng dụng các kết quả nghiên cứu hình thái và cấu trúc tháp mũi người Việt Nam trong các phẫu thuật tạo hình-thẩm mỹ tháp mũi như: phẫu thuật thu hẹp nền mũi, chóp mũi và các đường cưa xương bên của tháp mũi. * Ứng dụng các kết quả nghiên cứu hình thái, kích thước tháp mũi và phần mềm NM 2.0 vào ngành khoa học hình sự. KẾT LUẬN Qua nghiên cứu 3 nhóm: nhóm một nghiên cứu hình thái tháp mũi trên mẫu 400 bằng phương pháp phân tích trên ảnh chụp kỹ thuật số có sử dụng phần mềm NM 2.0, nhóm hai so sánh giữa 2 phương pháp đo trên ảnh kỹ thuật số và đo trực tiếp, nhóm ba nghiên cứu cấu trúc cơ thể học khung xương sụn tháp mũi qua phẫu tích và đo trực tiếp trên 30 xác ướp, chúng tôi rút ra những kết luận sau: 1. Hình dạng và các số liệu về kích thước tháp mũi nghiên cứu trên người Việt Nam rất khác biệt so với người Âu Mỹ da trắng, nhưng các kết quả thu được trên phụ nữ Việt Nam không có nhiều khác biệt so với phụ nữ miền nam Trung Quốc. 2. Các xương và sụn cấu tạo nên tháp mũi ở người Việt Nam có hình dạng không có nhiều khác biệt nhưng kích thước nhỏ hơn ở người châu Âu da trắng. 3. Phương pháp đo các kích thước tháp mũi trên ảnh kỹ thuật số cho kết quả không có nhiều khác biệt so với đo trực tiếp. Phương pháp đo trên ảnh kỹ thuật số có giá trị thực tiễn và khoa học, cần thiết đối với phẫu thuật viên trước khi tiến hành phẫu thuật tạo hình-thẩm mỹ mũi và mặt. Trong phương pháp đo trên, nếu có phần mềm viết trước như của chúng tôi đã làm (NM 2.0) thì việc tiến hành sẽ nhanh và thuận tiện hơn. Phần mềm NM 2.0 đã được các giám định viên kỹ thuật hình sự Sở Công An Thành phố Hồ Chí Minh sử dụng như là một công cụ hổ trợ tích cực trong việc phân tích lượng hóa các số đo trên ảnh cần giám định của nhiều lĩnh vực khác nhau của ngành này. 4. Trong phẫu thuật tạo hình-thẩm mỹ tháp mũi ở người Việt Nam, cần chú ý tham khảo các kích thước thu được qua đo trên người Việt Nam về hình thái và các xương, sụn cấu tạo nên tháp mũi để duy trì nét cân đối và hài hòa của gương mặt người Việt Nam. Các số liệu thu được qua công trình này chỉ có tính tham khảo chứ chưa phải là hằng số của người Việt Nam. Các kết quả này góp phần làm phong phú thêm phần số liệu tham khảo cho các ngành: phẫu thuật tạo hình-thẩm mỹ vùng mặt, nhân trắc học và ngành khoa học hình sự. KIẾN NGHỊ VỀ NHỮNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO Chúng tôi xin đề xuất một số kiến nghị về những công trình nghiên cứu tiếp theo: 1. Cần có những công trình nghiên cứu hình thái tháp mũi với những mẫu lớn hơn trên người Việt Nam ở 3 miền với tỷ lệ tương đương để số liệu có tính đại diện cho người Việt Nam hơn. 2. Tiếp tục ứng dụng và chỉnh sửa phần mềm NM 2.0 thành một phần mềm hoàn chỉnh hơn, có thể dự đoán được kết quả phẫu thuật. 3. Cần có những công trình phẫu tích trên xác tươi để nghiên cứu phần mô mềm tháp mũi cũng như có thể tìm được mối tương quan giữa hình thái và cấu trúc tháp mũi. <= Quay lại |